NHÂN QUYỀN VẤN ĐÁP

LS Lê Hữu Thống

Điểm nhấn :
HT Thích Không Tánh : Văn thư của Hòa Thượng Trung Hậu là một vết nhơ cho Phật giáo” … “Tại sao cụ Trung Hậu không lên tiếng đòi lại Việt Nam Quốc tự và Trung tâm Văn hóa Phật giáo Quảng Đức cho đạo của mình?
Ban biên tập Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận: “Giáo gian nổi bật bên phía Công giáo lần này là cán bộ tôn giáo vận Trương Bá Cần với tờ báo phá đạo của ông, “Công giáo và Dân tộc”. Bất chấp lương tâm của một linh mục, tay bồi bút này đã một lòng phò chủ CS trong vụ cướp đất tòa Khâm sứ và vụ “truy tầm sở hữu chủ nguyên thủy” của hai nhà thờ lớn Sài Gòn và Hà Nội. Thói lý luận đầy ngụy biện, kiểu bênh chủ cách trâng tráo và việc ngang nhiên phủ nhận lịch sử của ông ta đã khiến người ta phải đặt vấn đề khai tử tờ báo ô nhục nói trên, và đồng thời với nó là Ủy ban Đoàn kết Công giáo, cái công cụ đầy thành tích phá đạo vốn đã là vết nhơ và là vết thương trên cơ thể Giáo hội VN suốt bao năm trời.”

NHÂN QUYỀN VẤN ĐÁP

LS Lê Hữu Thống

I. LUẬT QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN LÀ GÌ ?

Cách đây 53 năm, năm l948, tại Paris, Liên Hiệp Quốc ban hành Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Sở dĩ Liên Hiệp Quốc (LHQ) chọn Paris là vì cũng tại nơi này, năm l789, Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp đã được công bố. Đây là bản tuyên dương những quyền con người phát sinh từ giá trị nội tại của con người, và những quyền công dân xuất phát từ tư cách công dân.

Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền 1789 nhắc lại lời cảnh giác của các nhà Cách Mạng Pháp, theo đó “sự khinh miệt, phủ nhận hay lãng quên nhân quyền là nguyên nhân duy nhất đem lại đại bất hạnh cho dân chúng và sa đọa cho chính quyền.”

Vậy mà con người lúc vô sự thường hay vô tâm. Phải đợi dến khi hai cuộc thế chiến bùng nổ gieo đau thương tang tóc cho hàng chục triệu con người, lúc ấy nhân loại mới tỉnh ngộ và nhớ lại lời cảnh giác xưa. Ngoài ra, giữa hai cuộc thế chiến và cả sau chiến tranh, nhân loại đã chứng kiến những vụ tàn sát dã man, với 30 triệu nạn nhân tại Liên Bang Xô Viết, 6 triệu tại Đức Quốc Xã và 70 triệu tại Trung Quốc. Những nạn nhân này không phải là kẻ thù của dân tộc, mà chỉ là những lương dân vô tội.

Dư luận quốc tế vô cùng xúc động về những hành động diệt chủng này. Vậy mà cho tới cuối thập niên 1940, các quốc gia văn minh vẫn không lên tiếng phản kháng. Vì họ sợ mang tiếng vi phạm chủ quyền quốc gia, vi phạm quyền dân tộc tự quyết, bằng cách can thiệp vào nội bộ các quốc gia khác. Hồi đó người ta chỉ nói đến quyền của quốc gia, chứ không nói đến quyền của người dân. Nhân danh chủ quyền quốc gia, Stalin, Hitler và Mao Trạch Đông đã tàn sát hàng chục triệu con người, bất chấp dư luận thế giới.

Sau Thế Chiến II, nhân loại mới ý thức rằng chủ quyền quốc gia đã bị lạm dụng. Chủ quyền quốc gia không phải xuất phát từ một ý niệm thần quyền trao cho vua chúa toàn quyền cai trị theo thiên mệnh hay theo quan niệm độc tài đảng trị trao cho đảng cầm quyền độc quyền lãnh đạo.

Từ nay căn bản của mọi quyền lực quốc gia xuất phát từ ý chí của người dân, từ quyền dân tộc tự quyết. Chiếu dân tộc tự quyết, người dân được tự do lựa chọn chế độ chính trị của quốc gia và tự do lựa chọn các đại biểu của mình trong chính quyền để thực thi chế độ đó.

Mùa Xuân 1945, 50 quốc gia đồng minh họp Hội Nghị San Francisco để thành lập Liên Hiệp Quốc. Mục đích để duy trì hòa bình cho các quốc gia, tránh một trận thế chiến thứ ba, chiến tranh nguyên tử tòan diện và toàn diệt.

Để đạt được mục tiêu này, LHQ đề ra 2 phương châm hành động:

l) Dẹp bỏ hận thù trong quá khứ, không phân biệt kẻ thắng người bại, không đòi trả thù và bồi thường chiến tranh, LHQ chủ trương bình đẳng, hợp tác và hữu nghị giữa các dân tộc, và hòa bình hòa giải giữa các quốc gia.

2) Ý thức rằng sự khinh miệt, phủ nhận hay lãng quên nhân quyền là nguyên nhân đưa tới đại bất hạnh cho dân chúng và sa đọa cho chính quyền, LHQ chủ trương tôn trọng và thực thi nhân quyền cho tất cả mọi người.

Trong chiều hướng hợp tác và hữu nghị giữa các dân tộc, năm l947 Hoa Kỳ ban hành Kế hoạch Marshall để tái thiết Âu Châu thời hậu chiến. Chẳng những để tái thiết các quốc gia đồng minh như Anh, Pháp… mà còn để xây dựng lại các quốc gia thất trận như Đức, Ý v.v…

Tại Á Châu năm l95l, cùng với 48 quốc gia khác, Hoa Kỳ ký Hòa Ước Nhật Bản để đem lại hòa bình, dân chủ và phát triển cho Nhật Bản.

Trong chiều hướng tôn trọng và thực thi nhân quyền, năm 1941, trong khi chiến tranh còn đang tiếp diễn, tại diễn đàn Quốc Hội Hoa Kỳ, Tổng Thống Franklin Roosevelt đã nêu lên 4 nhân quyền căn bản là:

l) Quyền tự do ngôn luận (freedom of speech)

2) Quyền tự do tín ngưỡng (freedom of belief)

3) Quyền được giải thoát khỏi sự túng thiếu về kinh tế (freedom from want).

4) Quyền được giải thoát khỏi sự sợ hãi (freedom from fear), sợ hãi do nạn xâm lược bên ngoài và chuyên chế bên trong.

Tại Hội Nghị San Francisco 1945, 50 quốc gia sáng lập LHQ ký bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc để duy trì hòa bình cho các quốc gia và thực thi nhân quyền cho con người.

Qua năm sau, Liên Hiệp Quốc thành lập Ủy Ban Nhân Quyền để soạn thảo Luật Quốc Tế Nhân Quyền.

Và ngày l0-l2-l948, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã được Đại Hội Đồng LHQ thông qua với 48 phiếu thuận và không phiếu chống.

Kể từ ngày đó, nhân quyền không còn là một vấn đề nội bộ của các quốc gia mà là một vấn đề quốc tế, một vấn đề toàn cầu.

Hơn nữa nhân quyền cũng không phải là những lý tưởng viển vông ghi trong sách vở mà là những vấn đề thực tiễn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của người dân cũng như đến vận mạng của các quốc gia dân tộc.

Thí dụ như Quyền Dân Tộc Tự Quyết. Năm l960, LHQ thông qua Nghị Quyết yêu cầu các quốc gia hội viên thực thi quyền dân tộc tự quyết, đặc biệt khuyến cáo các đế quốc Tây Phương trao trả độc lập cho các thuộc địa Á Phi. Tại diễn đàn LHQ, Tổng Thống De Gaulle tuyên bố sẽ tuân hành Nghị Quyết của LHQ và cam kết sẽ tổ chức trưng cầu dân ý cho người dân Algérie được hành sử quyền dân tộc tự quyết bằng cách lựa chọn chế độ chính trị, hoặc độc lập, hoặc thuộc Pháp. Hai năm sau, năm 1962, trong cuộc trưng cầu dân ý, 90% nhân dân Algérie đã lựa chọn chế độ độc lập, chấm dứt chế độ thuộc địa.

Quyền dân tộc tự quyết được ghi trong Điều Thứ Nhất của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và của hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền là Công Ước về Những Quyền Dân Sự và Chính Trị và Công Ước về Những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa. Hai Công Ước này được LHQ thông qua năm l966 với l06 phiếu thuận và không phiếu chống. Cho đến nay l35 quốc gia đã phê chuẩn hay gia nhập các Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền (Việt Nam đã gia nhập hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền năm l982). Các Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền là những hiệp ước quốc tế đã được quốc hội phê chuẩn nên có giá trị cao hơn luật pháp và hiến pháp quốc gia.

Kể từ đó nhân loại văn minh có Luật Quốc Tế Nhân Quyền (International Bill of Human Rights). Luật Quốc Tế Nhân Quyền gồm có các điều khoản nhân quyền trong Hiến Chương LHQ, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Tuyên Ngôn Phụ Đính, hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền và các công ước quốc tế bổ túc và khai triển.

Luật Quốc Tế Nhân Quyền là văn kiện pháp lý quan trọng nhất trong thời đại chúng ta. Hai Công Ứơc Quốc Tế Nhân Quyền là hai hiệp uớc quốc tế quan trọng nhất trong lịch sử loài người.

Luật Quốc Tế Nhân Quyền được ban hành nhằm 3 mục tiêu:

1) Đem lại tự do hạnh phúc cho con người.

2) Đem lại hòa bình hòa giải cho các quốc gia.

3) Tiến tới một thế giới đại hòa trong tinh thần: bình đẳng, hợp tác và hữu nghị. Đây là giấc mơ ngàn đời của nhân loại theo đó “người trong bốn biển đều là anh chị em” (tứ hải chi nội giai huynh đệ tỷ muội).

Bước vào thiên niên kỷ mới, chúng ta kỳ vọng rằng rồi đây bạo lực sẽ bị thay thế bởi thuyết phục, chiến trường sẽ bị thay thế bởi hội trường và chiến tranh thế giới sẽ bị thay thế bởi luật pháp thế giới.

II. TUYÊN NGÔN KHÁC VỚI CÔNG ƯỚC NHƯ THẾ NÀO ?

Thông thường các bản tuyên ngôn như Tuyên Ngôn Độc lập Hoa Kỳ hay Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp chỉ là những văn kiện nhằm đề xướng những mục tiêu lý tưởng của quốc dân nên chỉ có giá trị tinh thần.

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền là một trường hợp đặc biệt. Vì Tuyên Ngôn này đã được Liên Hiệp Quốc biểu quyết và ban hành nên có hiệu lực ràng buộc các quốc gia hội viên. Năm 1977 khi gia nhập LHQ, Việt Nam có nghĩa vụ pháp lý phải tuân hành những điều khoản của Hiến Chương Liên Hiệp Quốc 1945 và Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948.

Các Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền là những hiệp ước quốc tế do các quốc gia ký kết hay gia nhập nên có hiệu lực ràng buộc các quốc gia kết ước. Năm 1982 khi tham gia vào hai Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền, Việt Nam có nghĩa vụ pháp lý phải tôn trọng và thực thi nhân quyền và những quyền tự do căn bản ghi trong các Công Ước này.

III. NGOÀI BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN CÒN CÓ NHỮNG BẢN TUYÊN NGÔN NÀO KHÁC ĐỀ CẬP ĐẾN QUYỀN CON NGƯỜI VÀ QUYỀN CÔNG DÂN ?

Năm 1789 các nhà Cách Mạng Dân Quyền Pháp công bố Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền. Năm 1776, Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành Tuyên Ngôn Độc Lập. Và trong thế kỷ 13 các nhà Cải Cách Anh phổ biến Đại Hiến Chương (Magna Carta).

1) Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp đề ra 3 mục tiêu Tự Do Bình Đẳng Bác Ái, và tuyên dương nhân quyền là những quyền tự nhiên thiêng liêng và bất khả xâm phạm của con người: “Con người sinh ra tự do và bình đẳng và tiếp tục được tự do và bình đẳng. Mục đích của mọi tập hợp chính trị là để bảo vệ những quyền tự nhiên, bất khả xâm phạm của con người như quyền tự do thân thể, quyền tư hữu và quyền tự do phát biểu là quyền cao quý nhất của con người.”

2) Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ khẳng định: “Con người sinh ra bình đẳng và được Tạo Hóa ban cho những quyền bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Các bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp và Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ dành cho người dân Quyền Đối Kháng. Khi chính quyền vi phạm thô bạo nhân quyền, người dân có quyền đứng lên lật đổ bạo quyền để giành lại những bảo đảm cho cuộc sống tương lai.

Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền khuyến cáo các quốc gia hội viên: “Điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải đứng lên chống áp bức và bạo quyền”.

3) Đại Hiến Chương Anh ban hành từ thế kỷ 13 là văn kiện pháp lý bảo đảm quyền tự do thân thể của người dân: “Con người tự do không thể bị bắt bớ, giam giư,õ lưu đầy hay hành quyết nếu không có bản án hợp pháp xác nhận tội trạng chiếu luật pháp quốc gia. Quốc vương phải cư xử ngay chính và có nghĩa vụ phải tôn trọng luật pháp”.

Về quyền riêng tư người dân Anh thường tự hào nói: “Căn nhà của chúng tôi có thể dột nát, mưa gió có thể lọt vào, nhưng vua chúa thì không được vào.”

IV. TẠI SAO QUỐC GIA PHẢI TÔN TRỌNG DÂN QUYỀN?

Từ khi con người biết sống hợp quần trong xã hội để thành lập quốc gia, giữa người dân và quốc gia có những nghĩa vụ hỗ tương phát sinh từ một khế ước mặc nhiên mệnh danh là khế ước xã hội. Chiếu theo khế ước này, người dân có nghĩa vụ phải đóng thuế để nuôi dưỡng quốc gia, phải đi lính để gìn giữõ bờ cõi của quốc gia. Để đáp lại những hy sinh về sinh mạng và tài sản của người dân, quốc gia cũng có nghĩa vụ phải bảo đảm cho người dân những quyền căn bản như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Bản Phụ Đính Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền do Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1998 yêu cầu các quốc gia hội viên phải hoàn thành nghĩa vụ trọng đại của họ trong việc đề xướng và tôn trọng nhân quyền và loại trừ hữu hiệu các vi phạm nhân quyền. Tuyên Ngôn Phụ Đính nhấn mạnh về 10 nghĩa vụ tiên khởi của quốc gia trong việc thực thi nhân quyền. Trong chiều hướng này, quốc gia có trách nhiệm:

1- Tạo điều kiện xã hội chính trị với những bảo đảm pháp lý để người dân thực sự được hưởng những quyền tự do liệt kê trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Tuyên Ngôn Phụ Đính.

2- Ban hành luật lệ và các văn kiện lập quy cần thiết để những quyền tự do này được thực sự thi hành.

3- Tu chính hiến pháp và luật pháp quốc gia cho phù hợp với những mục tiêu và nguyên tắc của Hiến Chương LHQ và những Tuyên Ngôn và Công Ước Quốc Tế Nhân Quyền. (Thí dụ: Điều 4 Hiến Pháp Việt Nam đi trái với quyền dân tộc tự quyết và quyền bình đẳng cơ hội tham gia chính quyền. Nghị Định 31 CP ngày 14-4-1997 ban hành quy chế Quản Chế Hành Chánh đi trái với quyền tự do cư trú và đi lại, quyền riêng tư, quyền làm việc, quyền được suy đoán là vô tội, quyền tự do thân thể, tự do hội họp và lập hội, tự do ngôn luận và báo chí, quyền tham gia chính quyền v.v…)

4- Khi có bằng chứng khả tín cho biết có sự vi phạm nhân quyền, quốc gia phải mở cuộc điều tra mau chóng, vô tư và phải công bố phúc trình không chậm trễ.

5- Khi nhận được đơn khiếu nại hay khiếu tố của người dân để đòi đền bù hữu hiệu, quốc gia (qua tòa án) phải mở cuộc thẩm vấn, tuyên phán quyết và truyền thi hành án văn không trì hoãn.

6- Quốc gia có nghĩa vụ đề xướng và tổ chức việc giảng dạy nhân quyền tại các cấp bậc giáo dục (trung học, đại học, chuyên nghiệp). Trong các chương trình huấn luyện luật sư, biện lý, công an, cảnh sát, quân nhân, công chức, phải giảng dạy những kiến thức và nguyên tắc nhân quyền liên quan đến việc hành nghề chuyên môn của các học viên.

7- Quốc gia phải đặc biệt lưu ý các nhân viên công lực hành sự như công an, cảnh sát và quân nhân về quyền và nghĩa vụ của họ trong khi thi hành công vụ. Họ không được làm những hành động vi phạm nhân quyền (như đàn áp những người biểu tình ôn hòa, bất bạo động). Họ cũng không bị trừng phạt về kỷ luật vì không chịu tham dự vào việc đàn áp nói trên.

8- Quyền đối kháng bất bạo động phải được bảo vệ. Quốc gia phải dùng mọi biện pháp cần thiết như triệu dụng các viên chức có thẩm quyền để bảo vệ hữu hiệu người dân khi hành sử nhân quyền, chống mọi đe dọa, trả đũa, bất cứ từ đâu tới.

9- Quốc gia có nghĩa vụ phổ biến kiến thức về những quyền dân sự, chính trị, kinh tế xã hội và văn hóa của người dân ghi trong các tài liệu căn bản về Luật Quốc Tế Nhân Quyền (như Hiến Chương LHQ, Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Tuyên Ngôn Phụ Đính, Công Ước Quốc Tế về những Quyền Dân Sự và Chính Trị, và Công Ước Quốc Tế về những Quyền Kinh Tế Xã Hội và Văn Hóa v.v…)

10- Quốc gia phải thành lập các Ủy ban Nhân quyền hay các Ủy ban Điều tra Vi phạm Nhân quyền nhằm mục đích đề xướng và bảo vệ nhân quyền. Các UB nhân quyền này phải có tư cách độc lập và được hưởng quy chế và ngân sách tự trị (như các Viện Đại Học hay Viện Bảo Hiến).

Đó là những nghĩa vụ của quốc gia trong việc phổ biến, thực thi và bảo vệ nhân quyền chống lại những vi phạm nhân quyền thường xẩy ra trong các nước kém dân chủ về chính trị và kém phát triển về kinh tế.

Nguồn : Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận

(Tải Bán Nguyệt San TDNL số 46 ở đây).

%d bloggers like this: